.jpg)
Thái Thị Bôi ở Nghi An1
Lớn lên trong cảnh lầm than đọa đày
Non sông bị giặc xéo giày
Bao người yêu nước bị Tây hành hình2
Từ tuổi thơ đã thông minh
Tư duy sắc sảo, học hành giỏi giang3
Giàu nhiệt huyết chống ngoại bang
Ngục hình chẳng sợ, gian nan không sờn!4
Giao thông liên lạc sớm hôm5
Ngược xuôi Đà Nẵng – Quảng Nam kiên trì
Hai lần bị giặc cầm tù
Trải bao nhiêu trận đòn thù dã man
Sắt son vững chí bền gan
Sáng ngời khí tiết trung can, kiên cường
Nữ nhi gan góc phi thường
Ra tù tiếp tục con đường đấu tranh6
Tài tình tổ chức kinh doanh7
Khéo khôn hoạt động giữa thành Thái Phiên
Lập hiệu sách, mở hiệu buôn
Làm nơi kết nối giao liên xa gần
Dựng xây cơ sở nội thành
Chở che nuôi giấu anh em thoát tù8…
Gian lao thử thách quản nào
Góp phần thúc đẩy phong trào tiến lên
Hiệu buôn Việt Quảng ngày đêm
Chương trình hoạt động càng thêm rộn ràng
Giặc Tây bạo ngược hung tàn
Làm cho Việt Quảng muôn ngàn khó khăn
Quân thù o ép, cản ngăn9
Điên cuồng đàn áp, hờn căm chất chồng
Qua bao phen bị cực hình
Chị lâm trọng bệnh, bệnh dần nặng thêm
Chị… đi giữa tuổi thanh xuân10
Công lao ghi tạc sử xanh đời đời11
Xác thân dẫu đã mất rồi
Tinh thần tranh đấu sáng ngời thiên thu12.
Nhà báo LÊ VĂN THƠM
*Chú thích:
1/ Chị Thái Thị Bôi sinh tháng 3 năm 1911, trong một gia đình nông dân nghèo, tại làng Nghi An, xã Hòa Phát, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
2/Mới 5 tuổi (năm 1916), Thái Thị Bôi đã chứng kiến một cảnh đau thương: Bọn thực dân Pháp và tay sai hành quyết Thái Phiên, chú ruột của chị. (Thái Phiên và Trần Cao Vân là hai lãnh tụ cuộc Khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 và cùng bị giặc hành hình).
3/ Năm 13 tuổi (1924), Thái Thị Bôi thi đỗ hạng ưu vào Trường Đồng Khánh (Huế) và được cấp học bổng. Ở Huế, Thái Thị Bôi tham gia phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên và được kết nạp vào tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
4/ Năm 1926, Thái Thị Bôi bị Sở Mật thám Trung Kỳ bắt giam, tra khảo, rồi ra lệnh đuổi về Quảng Nam, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương.
5/ Có trình độ học vấn, nhiệt tình, hăng hái hoạt động yêu nước, đầu năm 1928,Thái Thị Bôi được cử vào Ban Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tỉnh Quảng Nam, làm liên lạc của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Nam – Đà Nẵng.
6/ Năm 1928, Thái Thị Bôi thành lập “Đà thành Nữ công học hội”, tập hợp nữ thanh niên, mở mang việc dạy nghề, dạy văn hóa, tích cực tuyên truyền giác ngộ phụ nữ. Năm 1930, chị gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1931, chị bị địch bắt cùng với chồng là Lê Văn Hiến, nhưng sau một thời gian chị được thả ra vì không đủ chứng cứ, còn Lê Văn Hiến bị kết án 5 năm tù, đày lên ngục Kon Tum.
7/ Năm 1936, tận dụng cơ hội Mặt trận Bình dân Pháp nắm quyền, Thái Thị Bôi và chồng là Lê Văn Hiến tập hợp lực lượng, vận động quần chúng đấu tranh với địch trong điều kiện mới. Vợ chồng chị cùng đồng chí Nguyễn Sơn Trà thành lập Hiệu sách Việt Quảng, do chị đứng tên chủ hiệu. Ngoài dịch vụ phát hành sách báo, Hiệu sách Việt Quảng còn làm đại lý thuốc tây cho các bệnh viện ở Hà Nội, đại lý gỗ ở Nghệ An, rượu dâu ở Quảng Bình… nhằm tạo nguồn kinh phí cho các hoạt động cách mạng. Từ đó, Hiệu sách Việt Quảng còn gọi là Hiệu buôn Việt Quảng.
8/ Hiệu buôn Việt Quảng còn che chở, nuôi giấu nhiều anh em mới ra tù (hoặc vượt ngục) và hỗ trợ kinh phí cho các cán bộ đi lại hoạt động.
9/ Thực dân Pháp và bè lũ tay sai coi Hiệu buôn Việt Quảng và bà chủ hiệu Thái Thị Bôi như một cái gai nhọn. Chúng tìm mọi cách gây sức ép, cản trở hoạt động, buộc các nhà tư sản phải “cắt đứt” quan hệ với Hiệu buôn Việt Quảng…
10/ Do hậu quả tra tấn của quân thù, sức khỏe chị Thái Thị Bôi suy yếu trầm trọng. Chị lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 23-2-1938, khi mới 27 tuổi.
11/ Đám tang chị Thái Thị Bôi có hàng ngàn người tham gia, biểu thị niềm đau xót, tiếc thương một nữ cán bộ trung kiên.
12/ Từ Huế, nghe tin chị Thái Thị Bôi qua đời, cụ Phan Bội Châu đã gửi vào một bài văn điếu rất bi ai, bày tỏ lòng thương tiếc một người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi kiên cường. Bài văn điếu có đoạn:
“Hỡi chị ơi!
Vận nước tang thương, đường đời tụ tán
Chị hỡi đành lòng, trời đâu nuôi loạn
Xác thịt chết nhưng tinh thần không chết…”