
Bà Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị
Quê ở vùng Giao Chỉ, Phong Châu
Vốn dòng Lạc tướng, Lạc hầu1
Trưởng thành trên xứ hái dâu nuôi tằm
Hai chị em tinh thông võ nghệ
Căm thù quân đô hộ hung tàn2
Cùng chồng Thi Sách hiên ngang
Quyết tâm giành lại giang san cơ đồ.
Tên Tô Định mưu mô độc ác3
Hắn dã tâm dập tắt phong trào
Giết Thi Sách, hại đồng bào
Càng sôi uất hận, càng cao lửa hờn!
Hai Bà Trưng đã cùng tướng sĩ
Nguyện đồng tâm đánh đuổi ngoại xâm4
Hội thề ở tại Hát Môn5
Nguyền khôi phục lại giang sơn Hồng Bàng
Lời Trưng Trắc âm vang khắp nước
Dân đồng tâm sau trước đứng lên
Nơi nơi chung một lời nguyền
Lời bà Trưng Trắc lưu truyền thiên thu:
“Một xin rửa sạch quốc thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Quân khởi nghĩa bao vây, công phá6
Bọn ngoại bang tan rã khắp nơi
Mê Linh ta đánh chiếm rồi
Bừng bừng khí thế long trời lở non
Ta thừa thắng xông lên thần tốc
Hạ Tây Vu, chiếm nốt Cổ Loa
Sông Hoàng, sông Đuống vượt qua
Luy Lâu đã thuộc về ta hoàn toàn!
Bọn Đông Hán kinh hoàng tháo chạy
Đám bại binh run rẩy đầu hàng
Tô Định cạo tóc cải trang7
Vứt cả ấn tín vua ban chạy dài!
Ngọn cờ nghĩa tung bay phấp phới
Khắp Cửu Chân, Hợp Phố, Uất Lâm…
Tưng bừng thắng lớn tiến nhanh8
Núi sông đã sạch bóng quân bạo tàn.
Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi
Chiến công đầu đánh đuổi ngoại xâm9
Mở ra trang sử hùng anh
Mở màn truyền thống đấu tranh quật cường
Lần đầu tiên sử vàng nước Việt
Sáng soi gương nữ kiệt lẫy lừng10
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Đời đời rạng rỡ tổ tông, giống nòi.
*Chú thích:
1/ Hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị sinh ra trong một gia đình quý tộc thuộc dòng dõi các vua Hùng. Cha là Trưng Định là một hiền sĩ, văn võ toàn tài, được cử làm quan lạc tướng vùng Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc).Năm 19 tuổi, Trưng Trắc kết duyên cùng Thi Sách – con lạc tướng vùng Chu Diên. Con của hai lạc tướng kết hôn với nhau làm cho thanh thế của hai họ càng lên cao, khiến cho giặc lo sợ.
2/ Hồi ấy, nhà Đông Hán cai trị nước ta, chúng chia nước ta thành 3 quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (từ phía nam Hoành Sơn đến núi Đại Lãnh) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hóa. Bọn đô hộ Đông Hán bắt nhân dân ta cống nộp đủ mọi thứ như ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi, ngọc ngà, châu báu… và bóc lột tô thuế nặng nề, làm cho đời sống nhân dân ta vô cùng khổ cực.
3/ Tô Định, Thái thú quận Giao Chỉ, rất tham lam, tàn ác, đàn áp dã man các thủ lĩnh người Việt yêu nước, giết hại nhiều dân thường.
4/ Trước cảnh nước mất nhà tan, Thi Sách và Trưng Trắc bàn tính chuẩn bị nổi dậy chống lại nhà Đông Hán. Tô Định lập mưu giết Thi Sách nhằm lung lạc ý chí của Bà Trưng Trắc và tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Nhưng hành động đó càng thổi bùng ngọn lửa căm hờn. Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị đã hiệu triệu nhân dân vùng lên chống quân Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ vào đầu năm 40.
5/ Ngày 4/9năm Kỷ Hợi 39, Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh, tổ chức Hội thề ở bãi đá Tràng Sa, cửa sông Hát, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), thường gọi là Hội thề Hát Môn (cửa sông Hát). Lờithề của Trưng Trắc như sau:
"Một xin rửa sạch quốc thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này".
6/ Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2/40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa chống lại bọn đô hộ nhà Đông Hán.
7/ Tô Định phải cạo tóc, cạo râu,vứt bỏ cả ấn tín mà chạy. Vì người Việt hồi ấy có tục lệ cạo tóc, nên Tô Định phải cạo tóc để dễ trà trộn vào dân trên đường chạy trốn và đã chạy thoát về Tàu.
8/ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Sau khi thành Luy Lâu bị hạ, các thành khác nhanh chóng tan vỡ và quy phục. Cuộc khởi nghĩa lan rộng vào Cửu Chân, Nhật Nam, sang Uất Lâm, Hợp Phố…
9/ Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 là cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
10/ Hai Bà Trưng sinh khoảng năm 12. Có tư liệu cho rằng Hai Bà Trưng là chị em sinh đôi. Ngày 6 tháng 3 năm Quý Mão 43, Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại sông Hát Giang sau thời gian kiên cường chống cự với quân Đông Hán, do Mã Viện cầm đầu.