
Bà Triệu Ẩu vốn dòng hào kiệt
Chí can trường, oanh liệt sáng soi
Quyết không cam phận tôi đòi
Dấy binh cứu nước diệt loài ngoại xâm
Bà quê ở Quan Yên, Thanh Hóa
Còn có tên là Triệu Thị Trinh
Tháng ngày cùng với người anh1
Cơ mưu chuẩn bị, nghĩa binh sẵn sàng
Khu Núi Nưa chọn làm căn cứ2
Giương cao cờ đánh đuổi giặc Ngô
Quyết tâm giành lại cơ đồ
Sá chi sống thác, quản nào gian nguy!
Thay thế anh, chỉ huy cuộc chiến3
Trực tiếp nơi trận tuyến xông pha
Cưỡi con voi trắng một ngà4
Nhụy Kiều lừng lẫy, Vua Bà kiên trung5
Giữa chiến trận tả xung hữu đột
Bọn giặc Ngô hoảng hốt kinh hoàng
Chúng kêu chống hổ dễ dàng6
Chống Vua Bà thật muôn ngàn khó khăn!
Giải phóng quận Cửu Chân nhanh chóng
Bước tiến quân vang động khắp miền
Vượt sông Mã, chiếm Bồ Điền
Diệt thù cứu nước, hịch truyền gần xa
Từ Cửu Chân tiến qua Giao Chỉ
Trăm chiến công giòn giã vang lừng
Giặc Ngô tháo chạy cuống cuồng
Nghĩa quân phát triển ngày càng mạnh thêm
Bà Triệu được anh em họ Lý7
Cùng toàn dân hiệp trí đồng tâm
Đánh tan Cửu Đức, Nhật Nam
Tiến quân như thể triều dâng sóng trào
Quân đô hộ Châu Giao tan tác
Giết những tên hung ác cầm đầu
Hiên ngang cờ nghĩa giương cao
Kiên cường dũng khí tạc vào sử xanh
Muôn thế hệ lưu danh, truyền khẩu
Hình ảnh bà Triệu Ẩu sáng soi
“Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.
Giặc Ngô lại cậy đông ỷ mạnh
Tên tướng già Lục Dận cầm quân
Mưu mô xảo quyệt, hiểm thâm8
Hung hăng tái chiếm, dã tâm phơi bày
Chúng tàn bạo đêm ngày đàn áp
Dùng biển người vây ráp liên miên
Vua Bà ra sức chống ngăn
Nghĩa quân ngày một khó khăn thêm nhiều
Bao nghĩa sĩ thân liều trận tuyến
Bao tướng tài quyết chiến hy sinh
Một lòng vì nước quên mình
Thiên thu danh tiết sống cùng núi sông.
Giặc hùng hổ tấn công khắp chốn
Nghĩa quân ta rút đến Núi Tùng
“Sinh vi tướng, tử vi thần”9
Vua Bà tuẫn tiết trên vùng non cao
Chết mà đã tạc vào lịch sử
Tấm gương người LIỆT NỮ TRUNG KIÊN
Cõi bờ cơ nghiệp Rồng Tiên
Nghìn năm vang vọng lưu truyền tiếng thơm.
Trang sử chống xâm lăng chói lọi
Sáng đời đời gương Triệu Thị Trinh
Thân nhi nữ, chí hùng anh
Kẻ thù khiếp sợ, nhân dân tự hào
Cưỡi gió mạnh, đạp nhào sóng dữ10
Không khom lưng trước lũ ngoại bang!
Diệt thù giành lại giang san
*Chú thích:
1/ Triệu Thị Trinh (Triệu Ẩu) và anh trai là Triệu Quốc Đạt dấy binh đánh đuổi quân Ngô đô hộ, quyết giành lại quyền độc lập dân tộc. Cuộc khởi nghĩa nổ ra năm 248.
2/ Núi Nưa nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
3/ Triệu Quốc Đạt hy sinh, Triệu Thị Trinh thay anh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Có tư liệu nói Triệu Quốc Đạt tử trận. Có tư liệu nói Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời.
4/ Hồi ấy trong vùng có con voi trắng 1 ngà hung dữ. Bà Triệu thuần phục được và thường cưỡi con voi ấy xung trận.
5/ Quân sĩ suy tôn Triệu Thị Trinh là “Nhụy Kiều Tướng Quân”, “Lệ Hải Bà Vương”, “Vua Bà”. Có tư liệu nói Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp vùng ven biển) là do giặc Ngô phong cho Triệu Thị Trinh để mua chuộc.
6/ Tương truyền, quân Ngô khiếp sợ uy dũng của Bà Triệu, cho rằng:
“Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà vương nan”.
Dịch nghĩa:
“Múa giáo đánh cọp dễ
Đối mặt Vua Bà khó”.
7/ Bà Triệu được 3 anh em họ Lý là Lý Hoằng Công, Lý Mỹ Công và Lý Thành Công ủng hộ, xây dựng căn cứ Bồ Điền vững chắc. Nghĩa quân ngày một lớn mạnh, nhân dân đồng lòng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu.
8/ Lục Dận được Vua Ngô phong làm Thứ sử Giao Châu, mang theo 8.000 quân để đàn áp cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Lục Dận sử dụng tiền bạc mua chuộc được một số thủ lĩnh của nghĩa quân, trong đó tên Hoàng Ngô đã đem quân đầu hàng giặc.
9/ Ngày 22/2 năm Mậu Thìn 248, sau nhiều ngày bị giặc bao vây ráo riết, Bà Triệu phải rút về núi Tùng Sơn (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Bà quỳ xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần), rồi rút gươm tự vẫn. Năm ấy, Bà Triệu mới 22 tuổi. (Bà sinhngày 8/11 năm Bính Ngọ226tại vùng núi Quan Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
10/ Bà Triệu căm thù bọn quan lại nhà Ngô ngay từ khi còn trẻ tuổi. Bà quyết hy sinh hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp cứu nước. Họ hàng khuyên bà lấy chồng, bà khảng khái nói: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người".