Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành Thái Phiên (tức Đà Nẵng) nói riêng và xứ Quảng nói chung vừa hoàn thành xuất sắc sứ mệnh giành chính quyền cách mạng tại tỉnh lỵ sớm nhất, khai sinh một chính quyền mới thuộc về nhân dân, vừa có những đóng góp to lớn trong việc thành lập Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đầu năm 1946.

Lễ đài ngày Quốc khánh 2-9-1945. (Ảnh tư liệu)
Từ giờ khai tử của một chính quyền bù nhìn…
Ngày 9-3-1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp và thay Pháp cai trị Việt Nam, tại Đà Nẵng, Nhật đưa Nguyễn Khoa Phong lên làm Đốc lý và ngay sau đó, Trung ương đã ban hành Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện tinh thần chỉ thị, Thành bộ Đà Nẵng tăng cường các hoạt động, kêu gọi nhân dân chuẩn bị mọi mặt nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền khi thời cơ chín muồi. Tháng 7-1945, theo chủ trương của tỉnh Quảng Nam, Ủy ban Mặt trận Việt Minh thành Thái Phiên được thành lập và phát triển tổ chức khắp cơ sở, dấy lên hừng hực phong trào luyện tập quân sự, rèn sắm vũ khí, thành lập nhiều đội dân quân tự vệ ở các xã, khu trong toàn thành phố.
Đầu tháng 8-1945, với sự lớn mạnh của các chi bộ, cơ sở Đảng của các sở, ngành, địa phương, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ triệu tập một cuộc họp, quyết định thành lập Thành ủy Thái Phiên và cử Ban Chấp hành lâm thời do Huỳnh Ngọc Huệ làm Bí thư. Khi được tin Nhật đầu hàng đồng minh (ngày 5-8), Huỳnh Ngọc Huệ họp ở tỉnh về và nhanh chóng triệu tập một cuộc họp gồm các thành viên trong Thành ủy, Ủy ban Mặt trận thành Thái Phiên mở rộng, mời đồng chí Lê Văn Hiến và Lê Dung tham dự. Cuộc họp được tiến hành tại nhà ông Nguyễn Đăng Khoa (kiệt 6 Hoàng Diệu), đã bầu ra Ủy ban khởi nghĩa thành phố do Lê Văn Hiến làm Trưởng ban. Ở các xã đồng loạt thành lập các Ủy ban khởi nghĩa của cấp mình.
Lúc này, toàn thành phố chia làm 3 khu, khu Đông nằm bên hữu ngạn sông Hàn (có các xã Mỹ Khê, An Hải, Phước Trường, Tân Thái, Thọ Quang, Mân Quang, Cổ Mân, Nại Hiên); khu Trung – nội thành (gồm Hải An, Nam Dương, Thanh Lộc Đán, Hải Châu, Bình Thuận); khu Tây gồm hai khu phố mang mật danh Hà Huy Tập (Thanh Khê, Hà Khê, Phú Lộc) và Lê Hồng Phong (Yên Khê, Xuân Hà, Xuân Đáng, Phục Đáng). Còn huyện Hòa Vang gồm các tổng An Lưu, An Phước, Thanh An, Hòa Giáo, Thái Hòa, Phước Tường (1). Ở huyện Hòa Vang, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa các xã, tổng lần lượt giành chính quyền. Ngày 22-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa huyện đã xuống huyện lỵ Hòa Vang tại chợ Mới (Hòa Thuận) bức tri huyện Ngô Khắc Trâm (huyện Cẩn) đầu hàng cách mạng. Ngày 24-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời huyện do đồng chí Lâm Quang Thự làm Chủ tịch ra mắt đồng bào tại sân vận động Cẩm Toại.
Ngày 24-8, những tin tức ở huyện Hòa Vang cùng các địa phương trong cả nước đã lần lượt giành chính quyền làm cho không khí khởi nghĩa ở khu Tây, Trung và nhiều xã khu Đông (2) của thành phố lên đến cao độ. Lúc này, Đà Nẵng có khoảng 5.000 quân Nhật, chúng tiến hành gom quân, tăng cường tuần tra đề phòng ta tấn công, đây là một mối lo ngại cho việc khởi nghĩa giành chính quyền nên Ủy ban khởi nghĩa chưa thể ban bố lệnh tổng khởi nghĩa. Tuy nhiên, nhân dân trong toàn thành phố đã sẵn sàng, chỉ cần một hiệu lệnh là xông lên cướp chính quyền, từ tiếng còi tầm từ Nhà Dây thép (Bưu điện) thành phố.
Đúng 8 giờ sáng 26-8, khi tiếng còi tầm từ Bưu điện thành phố liên tục hú lên những hồi còi báo động, ngay lập tức, ở các công sở, xí nghiệp có cán bộ và cơ sở Việt Minh được phân công chiếm giữ tại chỗ, treo cờ, khẩu hiệu tập hợp công nhân viên chức đọc lệnh khởi nghĩa, xóa bỏ bộ máy điều hành cũ, thiết lập trật tự cách mạng. Ở khu Tây, khi tiếng còi vang lên, các đồng chí Lê Tiền, Lê Quốc Cơ, Nguyễn Thành Long… đã gióng trống, đánh mỏ báo hiệu giờ khởi nghĩa toàn khu Tây đã điểm. Đình Hà Khê rực rỡ cờ đỏ sao vàng, băng rôn, áp phích đứng lên giành quyền làm chủ. Ở khu Trung (nội thành) là nơi tập trung nhiều công sở, xí nghiệp đã đồng loạt chiếm giữ. Đồng chí Lê Văn Hiến cùng một số đồng chí khác tiếp thu Tòa Đốc lý do Nguyễn Khoa Phong bàn giao.
Ở khu Đông, là vùng lúc bấy giờ dân cư thưa thớt. Đồng chí Trần Thị Anh Kim được Hội Phụ nữ cứu quốc lâm thời thành phố giao nhiệm vụ phụ trách việc giành chính quyền khu Đông. Khi tiếng còi vang lên thì đồng chí Kim vẫn còn bên nội thành mới đi ngang qua bót Con Gà mà “giật tít người, lòng như có lửa đốt” (3) vì tâm trạng vừa lo vừa hồi hộp trong thời khắc thiêng liêng này. Có thể thấy rõ một đặc thù là nhân dân vùng ngoại nhượng chịu nhiều thiệt thòi và bị áp bức nặng nề hơn nên dù chưa có lệnh tổng khởi nghĩa nhưng đã nổi dậy giành chính quyền sớm hơn so với nội thành (4). Khoảng 9 giờ, thành phố đã hoàn toàn thuộc về cách mạng, tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và không đổ máu.

Đồng chí Lê Văn Hiến
Thành Thái Phiên với hai đóng góp lớn trong buổi đầu chính quyền cách mạng
Sáng ngày 28-8-1945, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời thành Thái Phiên ra mắt tại cuộc mít-tinh lớn tổ chức ở sân vận động Chi Lăng với sự tham dự của hơn 2 vạn đồng bào, do ông Lê Văn Hiến làm Chủ tịch, ông Lê Dung làm Phó Chủ tịch. Thành ủy Thái Phiên nhanh chóng quán triệt đường lối của Trung ương Đảng: “Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là phải củng cố chính quyền cách mạng vừa mới được hình thành và xây dựng phát triển lực lượng cách mạng trong từng địa phương”. Thực hiện chỉ đạo trên, các cấp chính quyền Đà Nẵng và Hòa Vang được xây dựng và kiện toàn. Ngoài việc, phân chia lại địa giới hành chính, củng cố các lực lượng vũ trang, ban, ngành, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời Đà Nẵng còn xây dựng các đoàn thể cách mạng.
Trong thời kỳ này có hai vấn đề nổi bật, thể hiện sự đóng góp to lớn của xứ Quảng nói chung và Đà Nẵng nói riêng.
Thứ nhất, chỉ một ngày sau ra mắt Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời, ngày 29-8-1945, đồng chí Lê Văn Hiến đã bàn giao công việc ra Trung ương nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ lâm thời. Trên đường đi, dừng ở Huế đón và tháp tùng cựu hoàng Bảo Đại ra Hà Nội nhận lãnh nhiệm vụ cố vấn đặc biệt của Chính phủ; dừng ở Vinh, đón Hoàng thân Lào Suphanuvông ra Hà Nội gặp cụ Hồ để bàn nhiều việc liên quan đến cách mạng hai nước. Đặc biệt, tháng 12-1945, một sắc lệnh của Hồ Chủ tịch cử Bộ trưởng Lê Văn Hiến làm Đặc phái viên của Chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng với đồng chí Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, kéo dài 2 tháng 18 ngày, với mục đích giúp đỡ các địa phương xây dựng chính quyền mới – một chuyến đi không thể không có của Trung ương vào lúc này. Đồng chí Lê Văn Hiến là người Quảng đầu tiên tham gia xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tham gia Ủy ban Dự thảo Hiến pháp năm 1946.
Thứ hai, trong việc bầu cử Quốc hội (khóa I) vào ngày 6-1-1946, tỉnh Quảng Nam (bao gồm Đà Nẵng) đã bầu đủ 15 đại biểu/78 ứng cử viên tỉnh mình vào cơ quan quyền lực tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm (5): Phạm Bằng, Phan Bôi, Phan Diêu, Lê Văn Hiến, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Thế Kỷ, Nguyễn Xuân Nhĩ, Võ Sạ, Trần Tống, Phan Thao, Lâm Quang Thự, Trần Đình Tri, Trần Viện, Lê Thị Xuyến và Đinh Tựu. Thành phố Đà Nẵng bầu được một đại biểu là ông Lê Dung (quê Quảng Bình). Ngoài ra, cụ Huỳnh Thúc Kháng không phải là đại biểu Quốc hội nhưng được mời tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ngược lại, có một người Quảng là đại biểu Quốc hội khóa I nhưng do chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc nên không tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, chỉ trực tiếp giúp việc cho Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng, tức ông Phan Bôi – đây cũng chính là tính đặc thù của đóng góp xứ Quảng vào thời điểm này (6).
Có thể nói rằng, trong cuộc Cách mạng Tháng Tám và những ngày đầu lập nước, đối với xứ Quảng đã có những đóng góp to lớn với việc cung cấp cho Trung ương những con người có trí tuệ, bản lĩnh, thể hiện được đặc trưng truyền thống xứ Quảng hiếu học và tinh thần dấn thân vì cách mạng. Họ xứng đáng là những “khai quốc công thần” của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
VÕ HÀ
(1) Trong quá trình cai trị, thực dân Pháp chia thành phố nhượng địa Tourane [Đà Nẵng] thành nội nhượng (khu Trung – nội thành) và ngoại nhượng (khu Đông, khu Tây).
(2) Riêng khu Đông, mọi công việc chuẩn bị diễn ra rất khẩn trương, làng Mỹ Khê đã tiến hành khởi nghĩa sớm và thành lập chính quyền cách mạng sớm nhất khu Đông (22-8).
(3) Theo Hồi ký của đồng chí Trần Thị Anh Kim. Lưu tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng.
(4) Cùng với các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là một trong 4 tỉnh giành chính quyền sớm nhất ở tỉnh lỵ trong cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
(5) Theo Lâm Quang Thự – người con đất Quảng, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 182.
(6) Ngoài ra, có hai anh em ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) và ông Nguyễn Tường Long (nhà văn Hoàng Đạo) quê xứ Quảng được mời tham gia làm đại biểu Quốc hội khóa I không qua tổng tuyển cử.
Theo Báo Đà Nẵng