
Tượng Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu tại Đền thờ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu trên vọng lâu cửa Bắc,thành phố Hà Nội.
Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương
Đời đời ghi tạc hai gương anh hùng
Hiên ngang tướng chết theo thành
Sáng gương vì nước quên mình thiên thu
Kiên cường ngăn chặn quân thù
Giữ thành Hà Nội sá gì tử sinh
Sống bất khuất, chết quang vinh
Chống quân xâm lược rạng danh giống nòi.
Nguyễn Tri Phương suốt một đời
Chinh nam trấn bắc rạng ngời công lao1
Bố con chung một chiến hào2
Kháng Tây giữ nước quản nào nguy nan
Quân thù cuồng bạo, hung tàn
Giương oai diễu võ mưu toan cướp thành
Đòi ta mở cửa sông Hồng3
Đòi ta dừng việc quốc phòng, an ninh
Thị uy súng lớn quân tinh
Hung hăng đe dọa động binh rần rần
Nguyễn Tri Phương vẫn dốc lòng
Điều binh khiển tướng bố phòng ngày đêm
Đích thân ra cửa Đông Nam4
Chỉ huy lực lượng chống quân bạo cường
Trận tiền ông bị trọng thương
Giặc Tây hùng hổ tràn lên chiếm thành
Nguyễn Tri Phương đã kiên cường
Xé bông băng chết theo thành hiên ngang5
Chết mà nghĩa khí trung can
Tấm gương vì nước sử vàng sáng soi.
Hoàng Diệu tổ chức trong ngoài6
Dựng xây thế trận chống loài ngoại bang
Xa gần thắt chặt kỷ cương
Quyết tâm ngăn chặn Tây Dương đến cùng
Quân thù láo xược ngông cuồng7
Đòi ta buông súng giao thành ngang nhiên
Hoàng Diệu xuôi ngược trận tiền
Hô hào tướng sĩ xông lên diệt thù
Giặc Tây hung hãn tràn vào
Cửa Đông, cửa Bắc ào ào địch quân8
Kho thuốc súng bị nổ tung
Bọn Tây tứ phía tấn công nội thành
Quân thù ào ạt tiến nhanh
Trận đồ cả bốn mặt thành vỡ tan
Xót thương vận nước gian nan
Thề theo gương Nguyễn Tri Phương năm nào
Treo mình trên nhánh đa cao9
Một giây tuẫn tiết, ngàn sau lưu truyền
Chết mà khí phách trung kiên
Đời đời con cháu Rồng Tiên tự hào10.
Hy sinh, cống hiến, công lao11
Nghìn thu danh tính tạc vào sử xanh
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương
Sáng tâm dũng liệt, rạng gương trung thần
Sống vì nước, chết theo thành12
Kháng Tây cứu quốc lưu danh muôn đời.
Nhà báo LÊ VĂN THƠM
*Chú thích:
1/ Nguyễn Tri Phương (còn có tên là Nguyễn Văn Chương), sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân 1800 (tức ngày 9/9/1800), quê làng Đường Long, xã Điền Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, xuất thân trong một gia đình làm ruộng và làm nghề thợ mộc. Nguyễn Tri Phương dốc tâm phấn đấu cho công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua 3 đời vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông làm Tổng chỉ huy quân đội triều đình nhà Nguyễn chống lại giặc Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).
2/ Con của Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm (chức vụ Đô úy) cũng trực tiếp tham gia trận đánh giữ thành Hà Nội dưới trướng Nguyễn Tri Phương, bị trúng đạn hy sinh tại trận tiền.
3/ Ngày 19/11/1873, Francis Garnier – chỉ huy quân Pháp, ra tối hậu thư yêu cầu Nguyễn Tri Phương mở cửa sông Hồng cho người phương Tây thông thương, giải trừ vũ trang trong thành Hà Nội, bỏ lệnh cấm người Việt Nam không được liên lạc với Pháp…
4/ Nguyễn Tri Phương không trả lời tối hậu thư, sáng sớm ngày 20/11/1873, Francis Garnier ra lệnh cho quân của Jean Dupuis đánh vào cửa Đông và cửa Bắc, còn quân của Francis Garnier thì đánh vào cửa Đông Nam, Tây Nam và Tây thành Hà Nội. (Francis Garnier trực tiếp chỉ huy đánh cửa Đông Nam). Lập tức, Nguyễn Tri Phương ra lệnh cho quân sĩ chiến đấu và trực tiếp chỉ huy ở cửa Đông Nam.
5/ Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Mặt trận vỡ. Quân Pháp tràn vào chiếm thành, băng bó cho ông, ông xé bông băng, nhịn đói, chịu đau, rồi chết một cách bình thản vào ngày 20/12/1873, thọ 73 tuổi. Vua Tự Đứctự soạn bài văn tế cho 3 vị công thần: Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương, Đô úy Nguyễn Lâm (con Nguyễn Tri Phương) và Tán lý Nguyễn Duy (em Nguyễn Tri Phương), cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà. (Trong trận đánh bảo vệ đại đồn Chí Hòa (tỉnh Gia Định) ngày 25/10/1861, Tán lý Nguyễn Duy tử trận, Nguyễn Tri Phương bị thương, đại đồn Chí Hòa thất thủ). Tỉnh Gia Định nay thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh.
6/ Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, sinh ngày 10/2 năm Kỷ Sửu 1829 (tức ngày 14/3/1829), trong một gia đình Nho giáo tại làng Xuân Đài, xã Điện Quang, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Gia đình ông có 7 anh em và đều nổi tiếng là những người thông minh, học giỏi, trong đó 1 người đỗ phó bảng, 3 người đỗ cử nhân, 2 người đỗ tú tài dưới thời vua Tự Đức. Hoàng Diệu là người nổi bật nhất trong 7 anh em. Năm 20 tuổi, Hoàng Diệu cùng đỗ Cử nhân với anh trai Hoàng Kim Giám (khi ấy 23 tuổi). Năm 25 tuổi, Hoàng Diệu đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu 1853.Năm 1854, ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước, rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định).
7/ Năm 1882, quân Pháp ráo riết chuẩn bị đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2. Tổng đốc Hoàng Diệu tích cực luyện tập quân sĩ, tổ chức phòng thủ chặt chẽ, xây dựng công sự chiến đấu, lập kế hoạch bảo vệ Hà Nội và vùng trung châu, đồng thời xin triều đình tăng viện, nhưng triều đình đã làm ngơ. Hoàng Diệu ra lệnh cho người nước ngoài muốn vào thành Hà Nội phải xin phép chính quyền Việt Nam. Nhân dân Hà Nội đồng tình hưởng ứng chủ trương của Hoàng Diệu. Lệnh bất hợp tác với giặc Pháp được nghiêm chỉnh thi hành.
8/ Sáng 25/4/1882, tên đại tá Rivie gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu, đòi ông phải giao thành Hà Nội cho chúng. Hoàng Diệu bất chấp, tăng cường phòng thủ. 10 giờ cùng ngày, quân Pháp bắt đầu nổ súng. Hoàng Diệu dù đang bị ốm vẫn cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng dẫn đầu tướng sĩ xông lên mặt thành đánh giặc. Ông cho đóng chặt cửa Đông và cửa Bắc, dồn quân giữ cửa Nam và cửa Tây. Một viên hiệp quản bắn chết một sĩ quan Pháp được Hoàng Diệu thưởng tại trận 30 lạng bạc, khiến cho quân sĩ càng nức lòng. Trận chiến tiếp diễn đến 11 giờ trưa thì kho thuốc súng trong thành bị nổ tung khiến tinh thần quân sĩ hoang mang. Thừa lúc rối ren, quân Pháp dồn lực lượng đánh cửa thành phía Tây và phía Bắc và ùa vào chiếm thành.
9/ Mặt trận tan vỡ, Hoàng Diệu quay về dinh, mặc triều phục chỉnh tề, vào hành cung bái vọng: “Sức thần đã hết rồi” và thảo một tờ biểu gửi Vua Tự Đức: “Thần là một kẻ thư sinh, biết đâu việc binh bị mà bệ hạ giao cho chức vụ quá trọng. Làm sao tin được lòng giặc nên thần lo sửa soạn đề phòng. Việc chưa xong thì binh Pháp kéo đến… Một mình thề với Long thành, nguyện theo Nguyễn Tri Phương nơi suối vàng vậy”. Rồi ông đến bên cây đa trước cửa Võ Miếu thắt cổ tự vẫn đúng vào giờ Ngọ, ngày mùng 8/3 năm Nhâm Ngọ 1882 (tức ngày 25/4/1882).
10/ Được tin Hoàng Diệu tuẫn tiết, nhân dân Hà Nội vô cùng thương tiếc. Ngay hôm sau, nhân dân rước quan tài Hoàng Diệu về an táng trong vườn dinh Đốc Học (nay là phố Trần Quý Cáp, sau ga Hà Nội). Trong lễ tang, một sĩ phu Hà Nội đã đọc bài điếu nói lên công trạng to lớn và cái chết theo thành của Hoàng Diệu. Bài điếu có đoạn:
“…Cô thành chống giữ một mình thôi
Khảng khái như ông được mấy người
Cựu lục nghìn năm gương tiết dọi
Cô thần một chút tấm trung phơi…”
11/ Vua Tự Đức sau khi nhận được di biểu của Hoàng Diệu đã ban chỉ dụ ca ngợi vị trung thần vị quốc vong thân và sai các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Nam Định lo việc chuyển mộ ông về quê hương Quảng Nam. Em trai Hoàng Diệu là Hoàng Chấn, khi đó đang làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định), đi tháp tùng quan tài. Vua Tự Đức sai quan tỉnh Quảng Nam tổ chức một tuần tế và cấp 1.000 quan tiền nuôi mẹ của Hoàng Diệu.
12/ Tưởng nhớ công lao của Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu, chính quyền Hà Nội lấy tên hai ông đặt tên cho hai con đường ở trung tâm thành phố. Ngày 20/12/2003, thành phố Hà Nội đã lập đền thờ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu trên vọng lâu cửa Bắc.