logo.png

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

DANANG WOMEN'S UNION
Edit Content
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
Trang chủ»Hoạt động hội

Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 30 Ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào

18/05/201012 Lượt xem17 Phút Đọc
I. Khái quát về nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào:
1. Lịch sử, địa lý:
Nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào có diện tích 236.800 km2; phía Bắc giáp Trung Quốc Tây Bắc giáp Myanma, Tây Nam giáp Thái Lan, Nam giáp Campuchia và phía Đông giáp Việt Nam; thủ đô: Viêng Chăn; dân số khoảng 5.609.997 người (tính đến tháng 6/2005), trong đó tín đồ đạo Phật chiếm 85%> Lào có 68 bộ tộc chia làm 3 hệ chính là Lào Lùm (sống ở đồng bằng) chiếm 65% đân số; Lào Thâng (sống ở lưng chừng núi) chiếm 22% và Lào Xủng (sóng ở vùng núi cao) chiếm 13% dân số.
 
Ngày 12/10/1945, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mật trận Lào Itxala đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố độc lập. từ 1953 -1974 tiến hành kháng chiến chống Mỹ. Thời kỳ này có 3 lần hoà hợp dân tộc (lân thứ nhất: 18/11/1957; lần thứ hai: 23/6/1962; lần thứ ba: 05/4/1974). Ngày 02/12/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào lật đổ chế độ Quân chủ lập hiến. Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ra đời.
 
2. Kinh tế – xã hội:
– Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường thông ra biển và chủ yếu là đồi núi, trong đso 47% diện tích là rừng, có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê kông hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng Chăn, Chăm – pa – xắc,….45% dân số sống ở vùng núi. Hiện nay Lào có 800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông.
 
– Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm, nông nghiệp, khoàng sản và thuỷ điện. Nhìn chung, kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn định, chủ yếu là do sức sản xuất thấp, nguồn vốn dựa vào bên ngoài còn lớn, trong khi nội lực cong yếu.
 
– Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ. Các mục tiêu kinh tế – xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm được triễn khai thực hiện có hiệu quả. Các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 về sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triền nông thôn, phát triển hàng hoá, dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lựuc đều đạt kế hoạch. Chương trình sản xuất lương thực đã có bước tiến triễn rõ rệt, năm 2000 đạt sản lượng 2,2 triệu tấn, năm 2005 và 2006 đạt 2,5 – 2,6 triệu tấn, lần đầu tiên tự túc được lương thực, có dự trữ quốc gia và xuất khẩu. Riêng 10 tháng năm 2006, tăng trưởng đạt 7,4%; cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2,5 tỷ USD.
 
– Nhịp độ tăng trưởng trung bình 5,9 – 6%, trong những năm 2000 tăng mạnh hơn, năm 2005 tăng 7,2%. Tăng trưởng GDP năm 2006 đạt trân 7%. Thu nhập bình quân đầu người tăng dần, năm 2000đạt 298 USD/người/năm; năm 2005 đạt 491 USD/người/năm.
 
– Kinh tế đối ngoại: đến năm 2005, Lào có quan hệ thương mại với 50 nước; ký hiệp định thương mại với 19 nước, 35 nước cho Lào hưởng chế độ ưu đãi giảm thuế miễn thuế trong hệ thống ưu đãi phổ cập (quy chế GSP). Kim ngạch buôn bán hai chiều hàng năm đạt trên 1 tỷ USD. Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và hàng nguyên vật liệu.
 
– Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII (3/2006) đề ra mục tiêu đến năm 2020: Xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị, san ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trang kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệpvững chắc và lấy phát triển nông nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh GDP tăng gấp 3 lần năm 2000; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế.
 
3. Chính sách đối ngoại:
Đại hội Đảng VIII (3/2006) nêu: tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ; thực hiện chủ trương Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó tiếp tịc tăng cường tình đàon kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt nam, hợp tác toàn diện với Trung Quốc và các nước anh em khác, thắt chặt quan hệ hợp tác ới các nước láng giềng có chung biên giới, tích cực tham gia hoạt động trong ASEAN trên tinh thần giữ vững các nguyên tắc cơ bản của ASEAN.
 
II. Tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào:
 Cho tới nay, trong quan hệ quốc tế, ít có nơi nào và lúc nào cũng có được mối quan hệ đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, mẫu mực, trong sang như mối quan hệ Việt Nam – Lào. Cùng với thời gian, mối quan hệ đó đã không ngừng được củng cố và phát triển, từ quan hệ làng giềng gần gũi, thân thiện giữa hai quốc gia trong thời gian phong kiến, tiến đến quan hệ gắn bó trông cuộc đầu tranh tự phát của các trào lưu dân tộc và của nhân sĩ tiến bộ, khi hai nước đều bị đế quốc thực dân xâm lược, thống trị. Đặc biệt, từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đàm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mối quan hệ Vệt Nam – Lào có sự biền đổi về chất, trở thành mối quan hệ tự giác, kiểu mới, mang bản chất của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào được củng cố và nâng cao thành một quy luật tồn tại, phát triển, một nhân tố cơ bản đảm bảo thắng lợi của cách mạng mỗi nước và cả hai nước.
 
Trong buổi trả lời phỏng vấn của Báo Nhân dân ngày 4/7/1989, cố Chủ tịch Kay-xôn Phôm-vi-hẳn kể lại:"Tôi còn nhớ như in buổi làm việc thân tình trông căn nhà của Bác. Khi thảo luận về mối quan hệ giữa hai Đảng và hai nhà nước và giữa nhân dân hai nước, Bác Hồ và chúng tôi đều thấy rằng, ngoài mối quan hệ giữa hai Đảng cùng chung lý tưởng cộng sản, giữa hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, mối quan hệ giữa hai Đảng và nhân dân hai nước chúng ta còn có sự gắn bó mật thiết không giống bất cứ nước nào…Bác Hồ gõ tay lên trán rồi nói: "Chúng ta phải gọi là quan hệ đặc biệt".
 
Với sự dày công vun đắp và xây dựng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kay-xôn Phôm-vi-hẳn, cho đến nay, mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào ngày càng được củng cố và phát triển.
 
1. Quan hệ chính trị:
Quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào ngày càng được củng cổ thông qua việc ký các văn kiện quan trọng: Nam 1077 ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác; năm 2001 ký Hiệp định hợp tác 5 năm 2001 – 2005 và Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật giai đoạn 2001 – 2010; tháng 7/2001, ra Tuyên bố chung nêu đường hướng chỉ đạo cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào nhân chuyến thăm lào của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh….
 
Hai bên tăng cường cơ chế tiếp xúc trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo các cấp hai Đảng, hai Nhà nước, hai bên đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao và các cấp ngành, địa phương; đặc biệt là các chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn 19-22/6/2006;chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 10-13/10/2006 đã mở ra thời kỳ mới quan hệ hai nước sau khi cả hai nước kết thúc thắng lợi đại hội Đảng ở mỗi nước và sự thay đổi về nhân sự cấp cao Đảng và nhà nước. Tần suất các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước từ sau Đaị hội Đảng ở mỗi nước năm 2006 đến nay rất cao: tất cả các đồng chí lãnh đạo cấp cao Lào đã sang thăm chính thức Việt Nam; về phía Việt Nam, đoàn Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 10/2006, đoàn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 12/2006 và đoàn Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Lào từ 5-7/02/2007.
 
Về đối ngoại: Hai bên phối hợp chặt chẽ ở các diễn đàn quốc tế và khu vực nhất là các hoạt động ASEAN, tiểu vùng Mê Kông, sông Hằng – Mê Kông và nhóm công tác phát triển 3 vùng biên giới và các hoạt động hopự tác đa phương khác. Bộ nGoại giao hai nước đã tiến hành 4 cuộc giao lưu luân phiên hàng năm: lần thứ nhất 9/2003; lần thứ hai 5/2004; lần thứ ba 4/2005; lần thứ tư 5/2006.
 
Về hợp tác giữa 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia: Thủ tướng 3 nước đã có 4 cuộc họp bàn hợp tác (tại Viêng Chăn 10/1999, tại thành phố Hồ Chí Minh 1/2002; tại Xiêm Riệp 7/2004) và tháng 12/2006 tại Đà Lạt, Việt Nam.
 
2. Quan hệ hợp tác:
Hai bên thường xuyên tiến hàng cơ chế họp Uỷ ban lên chính phủ hàng năm. Đến nay, đã tiến hàng 29 phiên họp của Uỷ ban. Hai bên tăng cường quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực theo các thoả thuận cấp cao và các thoả thuận hợp tác cụ thể giữa các bộ, ngành. Quan hệ hợp tác giữa các nước trong 5 năm qua đã đi vào chiều sâu và đạt chất lượng, hiệu quả tích cực, cụ thể:
 
– Thương mại: trong giai đoạn 1999 – 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu hai chiểu đạt gần 2,2 tỷ USD, năm 2005 đạt 162,2 triệu USD, năm 2006 đạt 230 triệu USD, tăng 48% so với năm 2005 và vượt 18% so với mức 30 đạt ra năm 2004. Hai nước đạt mục tiêu nâng tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu lên 1 tỷ USD vào năm 2010 và 2 tỷ USD vào năm 2015.
 
Việt Nam xuất sang Lào các mặt hàng như dệt may, sản phẩm nhựa, chất dẻo,giày dép, sản phẩm gốm sứ, hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản, thuỷ hải sản, rau quả và nhập khẩu từ Lào chủ yêu khoáng sản và nông lâm sản.
 
– Đầu tư có những bước chuyển biến đáng kể. Cho đến nay, Việt Nam có số vốn đầu tư vào Lào gần 500 triệu USD, tập trung vào các lĩnh vực thuỷ điện, khai khoáng, giao thông vận tải, lâm nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cũng tăng cường đầu tư vào Lào, nhất là trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Dự án thuỷ điện Sekaman 3 với vốn ban đầu 300 triệu USD đã khởi công xây dựng năm 2005, một số các dự án thuỷ điện khác đang được khảo sát. Các dự án trồng cây cao su tại Nam Lào đang được triển khai tốt tuy còn hạn chế về diện tích, hợp tác trong lĩnh vực khai thác khoáng đang được mở ra trong thời gian gần đây, nhất là sau chuyến thăm chính thức Lào của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (12/2006).
 
– Hợp tác giáo dục, đào tạo là lĩnh vực hợp tác chiến lược lâu dài. Lĩnh vực này chiếm tới gần 50% vốn Việt Nam viện trợ hàng năm cho Lào. Ta đã tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chính trị và quản lý cho Lào với số lượng tăng từ 130 người năm 2001 lên 225 người năm 2005.
 
– Hai bên hợp tác chặc chẽ trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng và đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Trong giai đoạn 2006 – 2010, Việt Nam viện trợ cho Lào 900 tỷ VNĐ.
 
– Hợp tác giữa các địa phương được chú trọng thúc đẩy. Trong thời gian qua các địa phương biên giới hai nước đã tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hợp tác truyền thống gắn bó, đảm bảo an ninh xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vụ việc phát sinh nhằm xây dựng đường biên giới hoà bình, ổn định và phát triển. Hợp tác giữa các địa phương và các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Viêng Chăn, Chăm-pa-xắc, Khăn Muộn cũng được mở rộng và phát triển, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, phàn nào đáp ứng được nhu cầu phát triển của các địa phương và khai thác được tiềm năng, thế mạnh sẵn có về đất đai và nguồn tài nguyên, nhân lực của mỗi bên.
 
3. Các văn kiện đã ký kết
– Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt – Lào (18/7/1977); Hiệp ước hoạch định biên giới (7/1977); Hiệp định lãnh sự 1985; Hiệp định về quy chế biên giới 1990; Hiệp định hợp tác kinh tế – văn hoá – khoa học kỹ thuật 1992 – 1995 (2/1992); Hiệp định về kiều dân (1/4/1993); Hiệp định quá cảng hàng hoá (23/4/1994); Hiệp định hợp tác lao động (29/6/1995); Hiệp định hợp tác kinh tế- văn hoá- khoa học kỹ thuật 1996-2000 (14/1/1996); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (14/1/1996); Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (14/1/1996); Hiệp định vận tải đường bộ (26/2/1996); Hiệp định về hợp tác nông lâm và phát triển nông thôn năm 1997 và giai đoạn 1998- 2000 (12/8/1997); Hiệp định quy chế tài chính và quản lý các chương trình dự án sử dụng vốn không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Lào (3/1998); Hiệp định tương trợ tư pháp (6/7/1998); Hiệp định hợp tác chống ma tuý (6/7/1998); Hiệp định hợp tác về năng lượng- điện (6/7/1998); Bản thoả thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam- Lào giai đoạn 2001- 2010 (6/2/2001); Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa hai Chnhs phủ Việt Nam- Lào thời kỳ 2001- 2005 (6/2/2001); Hiệp định tín dụng xây dựng đường 18B (7/2001); Thoả thuận giữa Việt Nam và Lào về Quy chế sử dụng cảng Vũng Áng (7/2001); Nghị định thư sửa đổi bổ sung Hiệp định vận tải đường bộ ký ngày 24/2/1996 (7/2001); Nghị định thư 2001 thực hiện Hiệp định đường bộ sửa đổi (tháng7/2001); Nghị định thư về hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai nước (1/2002); Thoả thuận về cơ chế tài chính và quản lý dự án sử dụng viện trợ của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Lào (1/2002); Thoả thuận Viêng Chăn (8/2002); Hiệp định miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu phổ thông (5/4/2004); Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật 2006- 2010 (4/1/2006)…; và các hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHĐCN Lào ký hàng năm sau kỳ họp uỷ ban liên Chính phủ.
 
4. Kết luận
Nhìn lại những chặng đường cách mạng đã qua, càng phấn khởi và tự hào về những thắng lợi của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta càng phấn khởi và tự hào về quan hệ Việt Nam- Lào, mối quan hệ đặc biệt, bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết giữa hai dân tộc anh em, được hai Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-xi hẳn trực tiếp xây dựng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước dày công vun đắp, được tôi luyện trong thực tế và hun đúc bằng công sức và xương máu của biết bao anh hùng liệt sĩ, bằng sự hy sinh phấn đấu của nhiều thế hệ người Việt Nam và Lào, lớp con sau, đã nối tiếp nhau cầm súng chiến đấu chống kẻ thù chung để giành độc lập tự do cho mỗi dân tộc. Quan hệ Việt Nam- Lào đã trở thành mối quan hệ quốc tế mẫu mực, thuỷ chung, trong sáng, là nguồn sức mạnh và nhân tố bảo đảm thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Chính vì vậy, Chủ tịch Cay – xỏn Phôm- vi- hẳn đã nói: “ Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài toàn diện như vậy”.
 
Năm 2007, để góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyền thống ấy, hai bên đang phối hợp chặt chẽ trong việc viết lịch sử liên minh chiến đấu và quan hệ đặc biệt Việt- Lào làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ hai nước; phối hợp tổ chức kỷ niệm trọng thể hai ngày lễ lớn là 30 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao. Các hoạt động kỷ niệm sẽ kéo dài suốt trong năm 2007.

Chia sẻ bài viết Facebook LinkedIn Telegram WhatsApp

Các bài viết khác

Hội LHPN thành phố khởi động lại dự án “Công nhân khu công nghiệp thời đại kỹ thuật số” và khai mạc lớp tập huấn về kỹ năng số có lồng ghép giới dành cho cán bộ Hội

25/05/202621 Lượt xem

Mỗi tuần một câu chuyện đẹp: Sôi nổi các hoạt động hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “51 ngày hành động” của Cụm thi đua số 5

25/05/202664 Lượt xem

Mỗi tuần một câu chuyện đẹp: Học và làm theo Bác tại Cụm thi đua số 8

25/05/2026237 Lượt xem

Hội LHPN xã Sông Vàng phối hợp cùng GreenViet triển khai dự án OXFAM và EU hướng tới kinh tế xanh và phát triển bền vững

22/05/2026149 Lượt xem

Dự án của Hội LHPN xã Núi Thành đạt giải tại Cuộc thi “Phụ nữ kiến tạo tương lai xanh”

22/05/2026342 Lượt xem

Hội LHPN xã Duy Nghĩa lan tỏa chính sách an sinh xã hội đến hội viên phụ nữ và ngư dân

21/05/202635 Lượt xem

LỊCH CÔNG TÁC

VĂN BẢN HOẠT ĐỘNG HỘI

XÂY DỰNG NGƯỜI PHỤ NỮ
ĐÀ NẴNG THỜI ĐẠI MỚI
MỖI HỘI VIÊN MỘT CỬ CHỈ ĐẸP
MỖI TỔ CHỨC HỘI MỘT HÀNH ĐỘNG Ý NGHĨA
HƯỚNG VỀ CHI HỘI
ĐỒNG HÀNH CÙNG CHI HỘI
THÀNH PHỐ AN TOÀN
KHÔNG BẠO LỰC VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
ĐỒNG HÀNH CÙNG PHỤ NỮ BIÊN CƯƠNG
HỖ TRỢ PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP
QUY TRÌNH KẾT NẠP, CÔNG NHẬN HỘI VIÊN

ĐỊA CHỈ TIN CẬY

BÀI DÂN VŨ MẪU

QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
XÂY DỰNG ĐẢNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

BỘ PHÁP ĐIỂN ĐIỆN TỬ

CHUYÊN MỤC

INFOGRAPHICS

Danh sách Thường trực Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202544 Lượt xem

Danh sách Ban Thường vụ Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202525 Lượt xem

Danh sách Ban Chấp hành Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202547 Lượt xem

VIDEO

HÌNH ẢNH

DJI_0920
IMG_5015
IMG_4983
IMG_5176
IMG_4998
6287B5F0-6CC3-4AAF-BB92-36450EE5CE06
880BEEF7-85AD-418E-9513-7D8EC0EDB954
H1
KOI_8914
H2
H4
IMG_3034
IMG_2959
hinh-anh-3.jpg
hinh-anh-6.jpg

KẾT NỐI FACEBOOK

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng lượt truy cập : 13.571.480
Truy cập hôm nay : 946
Đang trực tuyến : 1
Địa chỉ IP : 216.73.217.84
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng
  • Địa chỉ: 01 Pasteur, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.3821.329 - 0236.3892.558
  • Email: vp-hlhpn@danang.gov.vn
  • Ghi rõ nguồn “Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng” khi bạn phát hành thông tin từ website này
  • Bản quyền © 2023 thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng. Đơn vị thiết kế website WAM.VN

Kết nối với chúng tôi

Đăng ký nhận bản tin

Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.