logo.png

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

DANANG WOMEN'S UNION
Edit Content
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Thư viện số
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Thư viện số
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Thư viện số
Trang chủ»Hoạt động hội

CỬ TRI CẦN BIẾT BẦU CỬ LÀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN

18/05/20118 Lượt xem35 Phút Đọc

Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân

Quyền bầu cử là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
 
Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.
 
Quyền bầu cử bao gồm việc đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu.
 
Theo quy định của pháp luật, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì đều có quyền bầu cử.
 
Quyền bầu cử
 
Theo quy định của pháp luật, Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử. Tuy nhiên, để được bầu làm đại biểu Quốc hội, người ứng cử phải bảo đảm những tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật. Hội đồng nhân dân, người ứng cử còn phải bảo đảm những tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
 
Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.
 
Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội :
 
Để đảm bảo tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội, chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước bầu cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến về: Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội; số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phươn ; bảo đảm để phụ nữ, các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng.
 
Cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân :
 
Cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được dự kiến, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi đơn vị hành chính, theo các định hướng sau : Đại biểu trẻ dưới ba mươi lăm tuổi, phấn đấu đạt tỷ lệ chung không dưới 15% ; đại biểu là phụ nữ, phấn đấu đạt tỷ lệ chung khoảng 30% trở lên, đại biểu là người ngoài Đảng, phấn đấu đạt tỷ lệ chung không dưới 10%.
 
Số người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử :
 
Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu ở đơn vị đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì do Hội đồng bầu cử quyết định.Người ứng cử chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử. Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.
 
Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó ít nhất hai người, trừ trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng theo hướng dẫn của Chính phủ. Trường hợp Ủy ban bầu cử quyết định xóa tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Ủy ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.
 
Việc xóa tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội:
 
Ng­ười đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên ng­ười đó trong danh sách những ng­ười ứng cử đại biểu Quốc hội.
 
Tr­ường hợp ng­ười ứng cử đã đư­ợc Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ư­ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đư­a vào danh sách chính thức những ngư­ời ứng cử đại biểu Quốc hội, như­ng trong thời gian Hội đồng bầu cử chư­a công bố danh sách này mà ng­ười đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý nh­ư sau: Ban th­ường trực Uỷ ban Trung ư­ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên ng­ười ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã đư­ợc Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ư­ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu; Ban th­ường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ­ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên ng­ười ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ư­ơng giới thiệu.
 
Ngư­ời đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban th­ường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên ng­ời đó trong danh sách những ngư­ời ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
 
Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử:
 
Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thì có quyền khiếu nại với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng. Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết. Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.
 
Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, thì công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền. Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Ủy ban bầu cử. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng. Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, ngưng việc tiếp nhận, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân  thì Uỷ ban bầu cử các cấp quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết. Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới. Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực đại biểu Hội đồng nhân dân  khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.
 
Các nguyên tắc bầu cử:
 
Ở nước ta, việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
 
* Nguyên tắc phổ thông: thể hiện tính toàn dân và toàn diện của bầu cử, bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, theo quy định của pháp luật.
 
Nhà nước phải đảm bảo để cuộc bầu cử thực sự trở thành cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.
 
* Nguyên tắc bình đẳng: là nguyên tắc bình đẳng nhằm bảo đảm sự khách quan, không thiên vị, để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử; nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân: Mỗi cử tri được ghi tên ứng cử ở một nơi cư trú; mỗi người chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu một phiếu bầu; giá trị phiếu bầu của mọi cử tri như nhau mà không có sự phân biệt; số lượng dân cư như nhau thì được bầu số đại biểu bằng nhau. Bên cạnh đó, cần có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các vùng dân tộc thiểu số và tỷ lệ đại biểu nữ thích đáng..
 
* Nguyên tắc bầu cử trực tiếp:  nghĩa là cử tri trực tiếp đi bầu cử, tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn ra người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình, không được nhờ người khác bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư.
 
Trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì có thế nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu, người viết hộ phải đảm bảo bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chổ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và bầu.
 
* Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri tự do chọn lựa người mình tín nhiệm mà không bị tác động bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Cử tri bầu ai, không bầu ai đều được đảm bảo bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến xem, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong phòng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
 
Các tổ phụ trách bầu cử:
 
Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội gồm có:Hội đồng bầu cử ở trung ương;Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử;Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu.
 
Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, các tổ phụ trách bầu cử bao gồm: Hội đồng bầu cử ở Trung ương; Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương; Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử); Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở đơn vị bầu cử (sau đây gọi chung là Ban bầu cử); tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu.
Các tổ chức phụ trách bầu cử không được vận động bầu cử cho những người ứng cử. Các thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử nói trên không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vận động bầu cử cho những người ứng cử nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng đối với những người ứng cử.
 
Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể; các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành.Các tổ chức phụ trách bầu cử có thể trưng tập cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội giúp việc theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng bầu cử; Chủ tịch Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc của Trưởng ban bầu cử.
 
Người ứng cử không được làm thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng cử; nếu đã là thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng cử thì người ứng cử phải rút ra khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử đó kể từ ngày được ghi tên vào danh sách chính thức những người ứng cử.
 
Về cử tri:
 
Cử tri là người có quyền bầu cử. Danh sách cử tri là cơ sở pháp lý để cử tri nhận thẻ cử tri, thực hiện quyền bầu cử của mình. Vì vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ về việc lập danh sách cử tri. Trong thời gian lập danh sách cử tri, công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách một nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Quy định như vậy nhằm đảm bảo để tất cả các cử tri đều được thực hiện quyền bầu cử. Mặt khác, nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong bầu cử, không ai có thể đi bỏ phiếu ở nhiều nơi.
 
Những người không được ghi tên vào danh sách cử tri là người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự.
 
Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri
 
Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án nhân dân hoặc cơ quan hữu quan phải thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đã lập danh sách cử tri xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.
 
Chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri niêm yết danh sách đó tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và tại những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để nhân dân kiểm tra.
 
Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai sót thì trong thời hạn hai mươi lăm ngày, kể từ ngày niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại bằng miệng hoặc bằng văn bản với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu kiện, Toà án nhân dân phải giải quyết xong. Quyết định của Toà án nhân dân là quyết định cuối cùng.
 
Mỗi cử tri được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi mới đến. Khi cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban nhân dân phải ghi ngay vào danh sách bên cạnh tên cử tri "Đi bỏ phiếu nơi khác". Ở những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác".
 
Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).
 
Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri. Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu. Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị tên và đóng dấu. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội; một phiếu bầu cho mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
 
Cử tri tiến hành bầu cử như thế nào?
 
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội quy định: Ngày bầu cử phải là Ngày Chủ nhật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử. Theo đó, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 đã được ấn định vào ngày Chủ nhật, 22/5/2011.
 
Việc bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước, bắt đầu từ 7h sáng đến 7 giờ tối. Tùy tình hình địa phương, tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 10 giờ đêm.
 
Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri. Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri ở phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
 
Mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu; không được vận động bầu cử tại phòng bỏ phiếu. Trong ngày bầu cử, việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp cso sự kiện bất ngời làm gián đoạn việc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
 
Tại khu vực bỏ phiếu, cử tri xuất trình thẻ cử tri và được Tổ bầu cử phát phiếu bầu cử theo mẫu quy định, có đóng dấu của Tổ bầu cử. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, nếu viết hỏng cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.
 
Phiếu bầu cử hợp lệ là phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử; phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu; phiếu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách hết họ và tên.
 
Phiếu bầu cử không hợp lệ không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát; phiếu không có dấu của Tổ bầu cử; phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu; phiếu gạch, xóa hết họ, tên những người bầu cử; phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.
 
Nguyên tắc xác định người trúng cử: Trong số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu, người ứng cử có số phiếu bầu đạt quá nửa tổng số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn là người trúng cử. Trong trường hợp nhiều người được số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.
 
Xác định, công bố kết quả bầu cử:
 
Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc. Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kết quả kiểm phiếu, gứi đên Ban bẩu cử và Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn chậm nahats là ba ngày sau ngày bầu cử. Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại (nếu có), Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước. Biên bản được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; một bản trình Quốc hội khóa mới và một bản lưu trữ. Hội đồng bầu cử căn cứ biên bản tổng kết cuộc bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội.
 
Mọi khiếu nại về kết quả bầu cử phải được gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử. Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng. Đây là thủ tục đặc biệt để bảo đảm việc trình kết quả bầu cử kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa mới chậm nhất là sau mươi ngày sau ngày bầu cử. Sau khi trình kết quả bầu cử sẽ được cơ quan chức năng tiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
         
Ủy ban bầu cử công bố kết quả bầu cử chậm nhất là: Năm ngày sau bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn; Bảy ngày sau bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền xuôi, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Mười ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền núi và hải đảo, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Mười lăm ngày đối với các tỉnh miền núi.
         
Bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Quốc hội:
         
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là hai mươi ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu chưa trúng cử. Người trúng cử phải là người được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu theo quy định thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.
         
Mỗi đơn vị bầu cử, nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử lại ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
         
Bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân:
         
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử chưa đủ hai phần ba số đại biểu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử quyết định ngày bầu cử thêm số đại biểu còn thiếu. Việc bầu cử thêm phải được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu nhưng không trúng cử. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.
           
Ở đơn vị bầu cử nào, nếu số cử tri đi bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử. Ủy ban bầu cử quyết định ngày bầu cử lại, chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên.
         
Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
 
         
Hủy bỏ kết quả bầu cử, xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử:
         
Hội đồng bầu cử ra quyết định hủy bỏ kết quả bầu cử trong trường hợp đơn vị bầu cử có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử. Hội đồng bầu cử tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ra quyết định huỷ bỏ kết quả bầu cử và ấn định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.
         
Vi phạm pháp luật về bầu cử là những hành vi làm trái các quy định của pháp luật về bầu cử, bao gồm: Dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội của công dân; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử; cản trở hoặc trả thù người khiếu nại, tố cáo về bầu cử. Các hành vi vi phạm được liệt kê trên đây, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
         
Thẩm quyền xử lý kỷ luật thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm. Các cơ quan (ủy ban nhân dân các cấp, công an…) có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về bầu cử theo quy định của pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật hình sự về bầu cử (cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án) là những cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về bầu cử được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm./.
 
(Trích “Sổ tay bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016”, NXB Chính trị-Hành chính, 2011)

Chia sẻ bài viết Facebook LinkedIn Telegram WhatsApp

Các bài viết khác

Phú Thuận: Nhiều hoạt động thiết thực chăm lo hội viên, phụ nữ và bảo vệ môi trường

03/07/20267 Lượt xem

Điện Bàn Tây: Ra mắt Chi hội Phụ nữ cao tuổi thôn Kỳ Lam

03/07/20265 Lượt xem

Ra mắt Chi hội Phụ nữ chợ, kết nối nữ tiểu thương vào tổ chức Hội

03/07/202670 Lượt xem

Cụm thi đua số 8: Đa dạng các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em, Tháng hành động quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình và kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 – 28/6/2026)

29/06/202662 Lượt xem

Hội LHPN phường Tam Kỳ tổ chức “Ngày hội gắn kết yêu thương” lan tỏa giá trị gia đình và yêu thương

28/06/202664 Lượt xem

Ngày hội “Gia đình số – Kết nối yêu thương”: Lan tỏa giá trị gia đình Việt trong kỷ nguyên số

26/06/2026298 Lượt xem

LỊCH CÔNG TÁC

VĂN BẢN HOẠT ĐỘNG HỘI

XÂY DỰNG NGƯỜI PHỤ NỮ
ĐÀ NẴNG THỜI ĐẠI MỚI
MỖI HỘI VIÊN MỘT CỬ CHỈ ĐẸP
MỖI TỔ CHỨC HỘI MỘT HÀNH ĐỘNG Ý NGHĨA
HƯỚNG VỀ CHI HỘI
ĐỒNG HÀNH CÙNG CHI HỘI
THÀNH PHỐ AN TOÀN
KHÔNG BẠO LỰC VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
ĐỒNG HÀNH CÙNG PHỤ NỮ BIÊN CƯƠNG
HỖ TRỢ PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP
QUY TRÌNH KẾT NẠP, CÔNG NHẬN HỘI VIÊN

ĐỊA CHỈ TIN CẬY

BÀI DÂN VŨ MẪU

QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
XÂY DỰNG ĐẢNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

BỘ PHÁP ĐIỂN ĐIỆN TỬ

CHUYÊN MỤC

INFOGRAPHICS

Danh sách Thường trực Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202560 Lượt xem

Danh sách Ban Thường vụ Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202535 Lượt xem

Danh sách Ban Chấp hành Hội LHPN thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030

11/12/202558 Lượt xem

VIDEO

HÌNH ẢNH

DJI_0920
IMG_5015
IMG_4983
IMG_5176
IMG_4998
6287B5F0-6CC3-4AAF-BB92-36450EE5CE06
880BEEF7-85AD-418E-9513-7D8EC0EDB954
H1
KOI_8914
H2
H4
IMG_3034
IMG_2959
hinh-anh-3.jpg
hinh-anh-6.jpg

KẾT NỐI FACEBOOK

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng lượt truy cập : 13.647.709
Truy cập hôm nay : 1.404
Đang trực tuyến : 7
Địa chỉ IP : 216.73.216.77
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • Lịch sử phát triển
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Hoạt động hội
    • Thành phố
    • Xã, phường và các đơn vị
  • Tin tức – Sự kiện
  • Tư liệu
    • Chính sách – Pháp luật
      • Trung ương
      • Thành phố
    • Văn bản hoạt động Hội
      • TW Hội LHPN Việt Nam
      • Hội LHPN thành phố
    • Tài liệu hoạt động Hội
    • Tài liệu sinh hoạt hội viên
  • Giới và phát triển
    • Bình đẳng giới
    • Phụ nữ tham chính
  • Gương điển hình
  • Đời sống & Xã hội
  • Thư viện số

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng
  • Địa chỉ: 01 Pasteur, Phường Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.3821.329 - 0236.3892.558
  • Email: vp-hlhpn@danang.gov.vn
  • Ghi rõ nguồn “Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng” khi bạn phát hành thông tin từ website này
  • Bản quyền © 2023 thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng. Đơn vị thiết kế website WAM.VN

Kết nối với chúng tôi

Đăng ký nhận bản tin

Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.